Bước chân dẫn lối
Phòng tập Pilates là một vùng sáng màu vàng ấm, chỉ thuộc về riêng chị.
Không âm thanh nào ngoài hơi thở và tiếng lò xo kháng lực.
Chúng rên như cái cổng lớn ở căn hộ chị ở, đoạn từ khu rác đi ra đường bên hông nhà.
Mỗi lần kết thúc, chị hít vào thật sâu,
cả căn phòng dường như rộng ra thêm một chút.
Chị bước ra ngoài.
Đồng hồ điện thoại báo 11 giờ.
Chị tắt đèn. Nhìn lại một lượt. Bình nước. Khăn quàng cổ. Bao tay. Đều đủ.
Cơn gió 3 độ lập tức tìm thấy những khoảng hở trên quần áo.
À, chị nhận ra đang thiếu thứ gì.
Chị rút chiếc bandeau len màu xám từ túi áo.
Nó dày, phảng phất mùi dầu gội đầu bồ kết quen thuộc bám từ tóc.
Chị đeo lên, rồi kéo hai bên che tai lại.
Mà bao nhiêu ấm áp là đủ?
Đó là một câu hỏi không ai trả lời được.
Giống như nhìn đôi tình nhân nắm tay nhau dạo bước dọc bờ sông,
không ai biết tình yêu đó sẽ kéo dài bao lâu?
Chị không biết đi đâu. Chị để đôi chân tự quyết định.
Chúng biết đường hơn mọi bản kế hoạch, tách biệt với bộ não của chị.
Đặc biệt, chị tin vào đôi chân mình những ngày gió nhẹ như hôm nay và hơi thở đều nhịp sau buổi tập.
Tram đến đúng lúc chị gần tới Rautatieasema.
Sao lại không lên? Dường như nó đến để đón tâm hồn lữ hành của chị.
Tram vắng. Ghế trống nhiều.
Nhưng chị không ngồi bên cửa sổ như thói quen. Chị đứng, dựa lưng vào thành ghế bật lên dành cho người ưu tiên.
Chị đứng yên.
Cửa lên tàu của xe tram đóng lại, không kịp ngăn một cơn gió lướt qua, luồn nhẹ vào mái tóc. Một cảm giác an toàn, mềm mại, kiểu chiếc lá đang trôi.
Hơi thở chị vẫn đều đặn, như một chiếc đồng hồ tĩnh lặng tích tắc trong lồng ngực.
Một người đàn ông lên ở trạm kế tiếp.
Anh ta bật chiếc ghế ưu tiên
và ngồi xuống với sự dứt khoát của một hòn đá rơi sầm xuống mặt hồ đóng băng mỏng.
Sóng lan ra quanh chị, dưới lớp băng, rồi chìm dần.
Anh ta mặc áo khoác dài, đội chiếc nón nỉ Scotland với vành nón cắt đôi khuôn mặt.
Chị không bận tâm đến đường nét khuôn mặt của anh ta.
Với chị, anh ta chỉ là một tập hợp của những hình khối màu xám.
Một màu xám an toàn, trung tính, không làm chị chói mắt, cũng đồng điệu với ánh sáng buổi trưa không mặt trời.
Chị quan sát vài nhịp, không còn gì thu hút.
Rồi, một người phụ nữ xé toạc không gian bước qua, tiến sát về phía cửa tram.
Cô ta cao gần hai mét, khoác lên mình lớp áo da từ đầu đến chân.
Cằm chị chỉ chạm đến xương quanh eo cô ấy.
Đôi chân chị theo cô ta cùng xuống trạm, hướng về phía Kauppahalli.
Khi mắt hai bên chạm nhau, bức tranh trở nên sắc nét: khung hàm, vệt râu mép, và quả trám ở cổ.
Một chữ "anh" nằm bên trong một chữ "cô".
Một người đàn ông chuyển giới.
Chị nhìn theo chiếc áo khoác da biến mất vào đám đông.
Quãng đường chung của hai người kết thúc ở đó.
Đột nhiên, dạ dày chị kêu lên như cái gàu đụng vào vách cái giếng cạn.
Chị nhận ra mình chưa ăn gì từ 5 giờ chiều qua đến nay.
Và, mùi rau củ hấp tỏa ra từ cửa Kauppahalli, thơm phức và chân thực...
....Kauppahalli ở Tampere là một chợ nhà lồng bên trong tòa nhà gỗ rất cũ.
Khi bước qua cánh cửa nặng, cơn gió 3 độ ngoài đường lập tức biến mất.
Cứ như ai đó vừa tắt tiếng chiếc tivi.
Bên trong ấm hơn một chút.
Không nhiều, nhưng đủ để hai bàn tay chị thôi lạnh.
Ánh sáng lọc qua những ô cửa sổ cao, rơi xuống các quầy phô mai và cá trích ngâm.
Không gian có mùi bơ, mùi bánh mì, và một thứ gì đó thơm mùi thì là giống súp cá hồi nóng lohikeitto.
Thời gian ở đây trôi chậm.
Chậm như một tô súp đang nguội dần trong chiếc tô bằng sứ.
Mọi người đi lại rất bình tĩnh.
Họ mua bánh mì, phô mai, cá, rau củ, chocolate v.v
Không ai nói lớn.
Chị tìm thấy một quầy thức ăn làm sẵn với dòng chữ "Bữa ăn trưa đủ dinh dưỡng".
Chị đặt món xong, thì vào khu vực ngồi chờ. Chị chọn một chiếc ghế cao kiểu quầy bar bằng gỗ nhỏ và ngồi xuống.
Chiếc ghế kêu nhẹ.
Âm thanh đó làm chị nhớ đến tiếng đàn guitar đang được lên dây ở đâu đó trong trí nhớ.
Dĩa thức ăn bằng giấy đưa tới trước mặt chị được sắp xếp rất gọn gàng.
Một miếng cá hồi áp chảo nằm ở giữa, phần da úp xuống. Bên cạnh là các loại cải ngâm chua vàng nhạt và vài loại rau củ hấp.
Chị cầm dao nĩa lên.
Thịt cá hồi mềm. Nó tách ra dễ dàng, gần như không cần dùng lực.
Ở chiếc bàn trước mặt có hai người.
Một người đàn ông với đôi mắt không nhìn thấy gì.
Giọng nói của anh ta to, trong lúc tay vẫn luôn cầm chắc cây gậy dẫn đường, bạn đồng hành của anh.
Anh ta nói to, không phải vì giận dữ,
mà có lẽ vì anh ta cần cảm nhận được ranh giới của căn phòng.
Sát bên anh là một người phụ nữ.
Trên áo thun của cô treo bảng tên: Tình nguyện viên.
Cô lắng nghe với cái đầu hơi nghiêng.
Sự im lặng của cô giống như một chiếc bình lớn, chứa hết những lời nói của anh.
Mỗi lần người đàn ông cười, những miếng dưa chuột muối trên dĩa của chị rung nhẹ.
Chị nhai một miếng cà rốt.
Mềm mịn. Ấm. Thơm mùi nước hầm các loại thảo mộc.
Vừa nhai, vừa lén lén quan sát phía trước mắt mình.
Người đàn ông khiếm thị đang sống trong một thế giới nhiều âm thanh và bóng tối,
trong khi chị ngồi trong một thế giới của nhiều ánh sáng và sự tĩnh lặng.
Chị và anh chỉ cách nhau chưa đầy một mét, vậy mà cảm giác như có cả một đại dương ở giữa,
một đại dương mà không chuyến xe tram nào có thể vượt qua.
Hai thế giới song song cùng tồn tại.
Người đàn ông tiếp tục nói. Người phụ nữ tiếp tục lắng nghe.
Chị ăn nốt miếng cá hồi cuối cùng.
Những miếng dưa chuột muối trên dĩa đã thôi rung từ lúc nào.
Thế giới của anh không còn chạm nhẹ vào thế giới của chị nữa.
Đến lúc phải đi.
Chị đặt dĩa vào thùng rác trước cửa quầy.
Phân loại theo đúng chức năng các thùng.
Ngoài kia chắc vẫn 3 độ.
Chị đẩy cánh cửa gỗ nặng bước ra ngoài.
Gió lạnh chạm vào chiếc khăn len xám che vành tai.
Nó vẫn đủ ấm.
Một chuyến tram vừa tới.
Nhưng lần này đôi chân không đưa chị lên.
Chúng quyết định rảo bước thong dong quay về.
Chiếc tram đóng cửa lại.
Và chậm rãi trượt đi.



Comments
Post a Comment